Trinh thám… nhà văn trinh thám Di Li!

 

Nguồn: Đương thời

Phan Hoàng

 

Khi nói đến Di Li, tôi lại nhớ về “nữ hoàng trinh thám” Agatha Christie, nhà văn Anh có sách trinh thám bán chạy nhất mọi thời đại. Tất nhiên một nhà văn trẻ không thể sánh được với một tượng đài, nhưng sự xuất hiện của Di Li như luồng gió mát khơi dậy niềm hy vọng về một tác giả, một dòng văn học giả tưởng trinh thám Việt Nam tương lai.

 

SỰ NHẠY CẢM QUÁ MỨC CỦA TÔI MỚI CHÍNH LÀ ÁP LỰC

 

Lần đầu tiên tôi biết Di Li là ở Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 7 tại Hội An năm 2006. Khi ấy tôi chưa đọc truyện của chị và cũng không có dịp trò chuyện với chị. Lần thứ hai tôi gặp Di Li ở Hội nghị Viết văn trẻ toàn quốc lần thứ 8 tại Việt Bắc hồi giữa tháng 9.2011. Chị tham gia với tư cách khách mời giống như tôi. Giữa hai kỳ hội nghị, tôi đã đọc một số truyện và bút ký của chị, cả về tâm lý xã hội lẫn trinh thám, đặc biệt là truyện trinh thám đầy cuốn hút.

 

Buổi chiều cuối cùng từ Tuyên Quang sang Thái Nguyên, đoàn nhà văn trẻ TP.HCM tham quan hồ Núi Cốc, mời Di Li và một số nhà văn khác cùng đi. Chúng tôi đang chơi vơi giữa lòng hồ tuyệt đẹp, thì gió mưa ập đến, sóng đập mạnh, thuyền phải tấp vào một đảo nhỏ trú ẩn. “Đây là kỷ niệm ấn tượng nhất trong hội nghị này”! Đó là câu nói duy nhất của Di Li đối với tôi trong suốt mấy ngày hội nghị và trước lúc chia tay.

 

Và bây giờ, cuối tháng 9.2011, nhà văn Di Li từ Hà Nội bay vào TP.HCM để tổ chức cuộc họp báo ra mắt tập truyện Nhật ký mùa hạ viết về tuổi niên thiếu của chị, chúng tôi mới có cơ hội trò chuyện với nhau nhiều hơn…

 

 

Xin chào nhà văn Di Li! Chẳng biết có phải do đọc truyện trinh thám kinh dị của Di Li mà lần đầu đối diện với chị, tôi có cảm giác chị khá bí ẩn, khá “trinh thám” dù không “kinh dị”. Bản thân chị có cảm nhận điều ấy?

Tôi thì thấy mình là người khá rõ ràng, rành mạch. Nhưng cũng rất nhiều người bảo tôi ít nói. Có lẽ chính vì sự kiệm lời ấy trong giao tiếp mà tôi thành ra… khó hiểu chăng? (cười)

 

Làng văn thật hiếm có những người vừa xinh đẹp vừa viết hay như chị. Nhan sắc và tài năng tất nhiên là một thuận lợi, nhưng có bao giờ nhan sắc trở thành áp lực cho cuộc sống lẫn nghề nghiệp của chị?

Ở phương Tây người ta coi phụ nữ tóc vàng hoe là đẹp và có hẳn những seri chuyện hài hước về những cô gái tóc vàng hoe. Bởi theo họ phụ nữ đẹp thường ngốc nghếch. Thời nào và ở đâu dân gian cũng quan niệm như thế, nên nhan sắc, nếu ai có nó thì cũng là một phiền toái trên phương diện “trông mặt mà bắt hình dong”. Sự nhạy cảm quá mức của tôi mới chính là áp lực trong cuộc sống của tôi.

 

Nhạy cảm là áp lực! Một “bật mí” thú vị. Song cũng khó hình dung một cô gái thông minh, nhạy cảm và xinh đẹp lại đi vào con đường văn chương… trinh thám kinh dị? Hẳn có một nguyên do trực tiếp nào đó?

Trên giá sách của tôi từ trước đến giờ thể loại trinh thám chiếm đa số. Đầu tiên là tôi thích đọc sách giả tưởng và tôi cũng mang nhiều nỗi ám ảnh về cuộc sống đầy rủi ro, bất trắc của con người đương đại. Điều đó tôi thể hiện cả trong tác phẩm.

 

VĂN HỌC TRINH THÁM CHỈ PHÁT TRIỂN KHI NỀN KINH TẾ ĐẠT ĐỈNH CAO

 

Ngược dòng lịch sử văn học Việt Nam, chúng ta thấy trước đây đã có những bậc tiền bối từng viết truyện kinh dị đường rừng như Thế Lữ, Lan Khai ở ngoài Bắc hay Lý Văn Sâm, Thẩm Thệ Hà ở trong Nam. Rồi sau này có một vài nhà văn khác cũng viết truyện tình báo, trinh thám nhưng không chuyên và chưa thể hình thành nên một dòng văn học trinh thám hay kinh dị cho Việt Nam. Vì sao? Theo lý giải của nhà văn Di Li.

Tôi đã đọc hầu hết các tác phẩm trinh thám và kinh dị Việt Nam, vì số lượng cũng không nhiều nên dễ sưu tầm tư liệu. Trinh thám và kinh dị thuộc về dòng văn học giả tưởng, mà thế mạnh của nhà văn Việt Nam không ở giả tưởng, chúng ta vẫn quen viết nệ thực nhiều. Ngoài ra độc giả Việt cũng không hẳn ưa chuộng trinh thám như độc giả Nhật Bản. Nhiều cuốn trinh thám dịch kinh điển đã phát hành ở ta với số lượng bán ra cũng khiêm tốn, chưa bằng một phần những câu chuyện tình lãng mạn của các tác giả trong nước.

 

Gần mười năm trước, khi còn làm việc ở tạp chí Kiến Thức Ngày Nay, tôi có tham gia tổ chức một cuộc thi văn học trinh thám với giải thưởng rất lớn ở thời điểm đó, nhưng sau một thời gian công bố, số lượng bài dự thi quá ít lại kém chất lượng, nên cuộc thi bất thành. Với tư cách là một nhà văn chuyên viết trinh thám, chị có nghĩ rằng vào thời điểm hiện nay, một cuộc thi như vậy có thể thu hút nhiều người viết tham gia?

Tôi cho rằng giờ có một giải thưởng tương tự thì cũng như vậy thôi. Thậm chí rất nhiều người còn không chịu phân biệt truyện vụ án và truyện trinh thám khác nhau thế nào. Chừng nào truyện trinh thám được nhiều người ưa thích trên thị trường văn học thì lúc ấy mới có nhiều nhà văn viết trinh thám được. Không phải ta viết trinh thám để bán sách, mà ta viết trên cái nền móng là ta thích nó trước hết. Giờ chính ta không thích thể loại này thì viết sao được.

 

Nguyên nhân sâu xa vì đâu, chị có thử lý giải?

Người Việt vốn tư duy nặng về tình hơn về lý. Nhiều độc giả không thích những câu chuyện cần đến sự suy luận logic. Triết học phương Đông và phương Tây đã lý giải rõ điều này. Và đó là lý do tại sao văn học trinh thám châu Á nói chung không phát triển. Khi tôi post từng chương của Trại Hoa Đỏ lên blog, độc giả thường hứng thú với những chương nặng yếu tố kinh dị, kỳ ảo hơn, còn những chương nhiều yếu tố điều tra hình sự và suy luận thì họ không hưởng ứng bằng. Hơn nữa, thể loại trinh thám chỉ phát triển khi nền kinh tế đã đạt đến đỉnh cao. Nếu tôi đang sống vào những thập niên trước, tôi cũng không biết mình có viết nổi trinh thám không khi trong đầu còn đang loay hoay cách mua gạo bằng tem phiếu, lúc đó, một câu chuyện trinh thám là không phù hợp với tình hình chung của xã hội. Và kinh tế càng phát triển thì những loại tội phạm tinh vi mới tăng theo. Vì vậy, quê hương của trinh thám là Anh, Mỹ, Pháp và Thuỵ Điển, sau này thì mới phát triển ở Nhật Bản. Đó là những quốc gia có nền kinh tế phát triển.

 

Có lẽ đó là nét đặc thù độc đáo của văn học trinh thám. Chị có thích hay chịu ảnh hưởng tác phẩm của những nhà văn trinh thám nổi tiếng thế giới nào không?

Trinh thám cổ điển thì tôi thích Agatha Christie của Anh. Còn trinh thám hiện đại, tôi ngưỡng mộ những câu chuyện thông minh của Stieg Larsson, tiểu thuyết gia người Thuỵ Điển.

 

Tôi chia sẻ ý kiến của chị khi chị từng cho rằng, vấn đề không phải văn chương hàn lâm hay trinh thám, miễn là nó giá trị, giống như nhạc giao hưởng hay đồng quê, vẫn luôn đồng hành bất tử trong đời sống nhân loại. Vậy bằng trải nghiệm của mình, chị thấy đâu là phẩm chất cần thiết cho một nhà văn có thể viết truyện trinh thám?

Trái với ý kiến của một số người cho rằng trinh thám là văn học bình dân, tôi lại để ý rằng những người thường đọc trinh thám lại là giới trí thức, vì một câu chuyện trinh thám đọc thường không dễ hiểu và độc giả cần vận dụng đầu óc nhiều để mở chìa khoá của tư duy. Người đọc cũng phải suy luận logic y như họ là một thám tử thực thụ. Chưa kể có những nhà văn chuyên viết truyện trinh thám chính trị như Didier Daeninckx của Pháp, thì cốt lõi của ông là vấn đề tư tưởng mà cần phải tinh ý mới nhận ra những tầng ý nghĩa. Đọc sách đã như vậy, viết sách còn cần những yếu tố logic gấp rất nhiều lần thế. Phẩm chất lớn nhất mà nhà văn trinh thám cần có là trí tưởng tượng, vì nhà văn đâu có bao giờ đi điều tra hay… gây án mạng. Và khi đã tưởng tượng mạnh rồi nhà văn lại phải tỉnh táo để không rơi vào những cái bẫy do mình tự bày ra.

 

Còn cái khó nhất để xây dựng một truyện trinh thám thành công?

Khó nhất vẫn là đừng để bạn đọc đoán ra bất cứ điều gì cho đến trang cuối cùng, sau khi họ đã nghiến ngấu vài trăm trang sách.

 

VẪN THĂNG HOA NHẤT VỚI THỂ LOẠI GIẢ TƯỞNG

 

Cái tên Di Li đã gắn chặt với thể loại văn học trinh thám bằng những tác phẩm Tầng thứ nhất, Điệu Valse địa ngục, Trại Hoa Đỏ, Chiếc gương đồng, Tháp Babel trên đỉnh thác Ánh trăng,… và đặc biệt là tiểu thuyết Trại Hoa Đỏ khi được xem như tác phẩm khai mở cho thể loại kết hợp trinh thám với kinh dị. Bình luận về tiểu thuyết Trại Hoa Đỏ, trên tờ Yomiuri Shimbun- nhật báo Nhật Bản có số lượng ấn bản in lớn nhất thế giới từng viết: "Với Trại Hoa Đỏ, người ta không thể biết ai là thủ phạm khi chưa lật đến trang cuối cùng". Đó cũng là nét độc đáo về kết cấu trong hầu hết các truyện trinh thám kinh dị của Di Li.

 

Nhưng Di Li đâu chỉ có trinh thám. Chị còn thành công ở những thể loại khác, như tập tản văn Cocktail thị thành viết về văn hoá sống thị dân; hoặc tập truyện ngắn 7 ngày trên sa mạc mà trong đó chỉ duy nhất Ảo mộng là truyện kinh dị, còn lại là những truyện tâm lý xã hội khá sâu sắc về thân phận và tâm hồn con người đương đại. Là người thích xê dịch, luôn thực hiện những chuyến du lịch ở nước ngoài, chị còn viết những bút ký có cái nhìn tinh tế, mới lạ như ở tập Đảo thiên đường. Nhà văn Di Li thổ lộ: "Tôi có một số tác phẩm được giải thưởng văn học lại không phải là trinh thám. Tôi viết cả thể loại tâm lý thông thường và truyện hài hước. Nhiều độc giả vẫn nói rằng họ bật cười khi đọc những câu chuyện ấy."

 

Chị có cảm thấy khó khăn khi “bước” ra ngoài thể loại trinh thám?

Tôi cảm thấy mình thể hiện dễ dàng trên mọi thể loại, chỉ là thăng hoa nhất với thể loại giả tưởng mà thôi.

 

Bạn đọc bất ngờ khi nhà văn trinh thám Di Li lại mang đến cho họ Nhật ký mùa hạ với những hồi ức đẹp và quyến rũ thuở thanh xuân. Có phải đây là “điểm dừng” tạm thời để chị nạp năng lượng cho những tác phẩm trinh thám mới?

Trong đầu tôi luôn ăm ắp những ý tưởng thử nghiệm. Nhật ký mùa hạ là cuốn sách dành cho tuổi thiếu nhi và tuổi teen, nhưng người lớn đọc vẫn phù hợp vì họ sẽ thấy chính mình trong đó. Khi viết xong cuốn sách, tôi thở phào nhẹ nhõm và tự nhủ rằng: Vậy là hồi ức của mình sẽ vĩnh viễn không mất đi, vì lỡ đâu ở một tuổi lẩm cẩm nào đó, tôi quên hết sạch mất thì sao. Tôi vẫn song song viết nhiều thể loại, trong đó có cuốn tiểu thuyết trinh thám thứ hai.

 

Liệu bạn đọc có thể tiếp tục đón nhận từ chị những nhật ký mùa thu, mùa đông?

Về nhật ký mùa thu, nghĩa là những câu chuyện riêng tư khi đã trưởng thành (cười), tôi không chiều ý độc giả đâu. Nếu tôi chạy theo thị hiếu của đám đông, thế nào tôi cũng viết chuyện tình lãng mạn, là thể loại mà ở bất cứ đâu, bất cứ khi nào cũng luôn là sự lựa chọn số một của đa phần độc giả nữ. Giờ thì tôi vẫn chưa có ý định tự “ăn mình” để bán sách. Không biết đến năm 90 tuổi thì tôi có nghĩ lại không.

 

Không chờ tới 90 tuổi, mà chỉ trong vòng 30 năm nữa, nghĩa là ở giữa lục tuần, chị hãy thử tưởng tượng con người và sự nghiệp của nhà văn Di Li sẽ đi đến đâu?

Trời, xin đừng nhắc đến điều ấy. Tôi sợ thời gian lắm. Chắc lúc ấy giá sách cá nhân dành riêng cho những tác phẩm của tôi sẽ đầy lên mãi và theo đó những nếp nhăn cũng dày mãi lên.

 

Và lúc đó nền kinh tế Việt Nam phát triển cao, chắc chắn sẽ có những cây bút trẻ chuyên viết truyện trinh thám kinh dị vượt qua đàn chị đàn cô… Di Li?

(Cười ngất) Tôi mong mình bị vượt qua quá đi chứ. Bị nhiều tác giả vượt qua nghĩa là văn học của chúng ta đã rất thịnh vượng về dòng trinh thám. Trinh thám có phát triển, nhiều người thích đọc nó thì người ta mới còn nhớ tới tôi, bằng không nửa thế kỷ sau trinh thám vẫn còn là khoảng trắng, thế nào người ta cũng mơ hồ: Hình như ngày xưa cũng có một nữ nhà văn viết truyện trinh thám, mà chẳng ai còn nhớ tên bà ấy nữa.

 

CĂN BỆNH HƯ DANH VÀ…

 

Bây giờ chúng ta chuyển sang một vấn đề khác. Có người cho rằng tác phẩm mình viết ra không cần bạn đọc, vì số đông chưa thể hiểu nổi họ. Cũng có người không hướng tới sự sáng tạo mà cố lợi dụng diễn đàn trên mạng để được nổi tiếng, bằng cách xúc phạm đồng nghiệp, đánh lừa độc giả với những chuyện tầm phào. Một căn bệnh hư danh đang lan tràn và gây phản cảm đời sống văn học. Chị cảm nhận ra sao về điều ấy?

Đã là người sáng tạo thì phải có danh. Tôi nghi ngờ những người cứ đưa ra ý kiến siêu thực rằng họ viết chỉ để cho mình và để chia sẻ không phải ở đám đông. Vậy thì họ chẳng nên in sách làm gì, họ cứ tự viết và tự đọc, hoặc đưa cho bạn bè số ít đọc. Mạng internet có sẵn đấy, ai chia sẻ được thì sẽ vào mạng đọc cùng họ rồi chia sẻ. Nhưng cũng có người coi “danh” chỉ đơn giản là được thật nhiều người biết đến. Chính sự mù mờ trong định nghĩa về “danh” ấy khiến nhiều người phạm sai lầm. Xưa kia Erostras vì muốn được nổi tiếng nên đốt quách đền thờ nữ thần Arthemis, chấp nhận ngàn kiếp gánh trên lưng mọi lời nguyền rủa của người đời. Giờ nhiều Erostras hiện đại cũng tạo “danh” như vậy.

 

Cái danh cái lợi trước mắt đôi lúc che mờ mắt con người, bất chấp hậu quả mà họ mang tới cho xã hội và cho cả bản thân mình. Đã có bao giờ chị rơi vào cái “bẫy” hư danh?

Khi mới bắt đầu viết những dòng đầu tiên, tất nhiên tôi viết không phải vì mong được nổi tiếng, thậm chí còn không dám nghĩ đến việc in sách. Nhưng dần dần những gì tôi viết ra được chấp nhận, rồi được công nhận. Như nhiều tác giả khác, “danh” cũng dần dần tự đến theo cách như vậy thôi. Và khi có chút “danh” rồi, người sáng tạo sẽ phải nỗ lực hơn trên nhiều phương diện để “danh” của mình không bị mất uy tín hay bị xúc phạm. Chính sự nỗ lực đó sẽ càng làm “danh” của họ được tươi sáng hơn. Càng có danh thực, người ta càng trách nhiệm hơn với “danh” của mình.

 

Ở góc độ tâm lý “trinh thám”, chị lý giải thế nào về căn bệnh xã hội hiện đại này?

Anh đang biến tôi thành chuyên gia khoa học trinh thám chứ không phải nhà văn trinh thám nữa rồi (cười). Trong nhiều thí nghiệm về tâm lý học, người ta chỉ ra rằng con người ta rất dễ phạm điều ác khi họ không phải chịu trách nhiệm cá nhân và cái tôi cá nhân của họ bị mờ đi. Giống như kiểu anh rất dễ tiện tay vứt rác ra đường khi anh đi giữa một đám đông và chẳng ai biết anh là ai, nhưng nếu rất nhiều người biết anh thì anh sẽ không dám làm điều đó. Người có danh thực sẽ phải rất thận trọng, không dám hành động bừa bãi, tuỳ tiện và họ cũng không dám sáng tạo ra những sản phẩm dở, sợ ảnh hưởng đến công chúng, nhưng trước hết là sợ ảnh hưởng đến “danh” của mình. Như vậy, “danh” đối với người sáng tạo là tối cần thiết để anh ta phát triển bản thân và có trách nhiệm với sản phẩm tinh thần của chính mình. Còn những người hành động lố bịch trước công chúng, tôi không biết vì bất kỳ động cơ gì, nhưng tôi nghi ngờ “danh” của họ, vì có lẽ họ đâu có “danh” mà sợ bị mất.

 

Nghĩa là khi không có “danh” thực sự bằng năng lực chân chính, thì họ dễ làm điều ác để khuếch trương “danh” mình bằng mọi giá. Đây có phải cũng là mẫu nhân vật lý tưởng cho truyện trinh thám kinh dị?

Một gợi ý thú vị (cười).

 

Được biết, chị tự dịch tác phẩm của mình ra tiếng Anh để giới thiệu với bạn đọc nước ngoài. Một nỗ lực cần thiết. Nhưng không phải nhà văn nào cũng có khả năng ngoại ngữ và điều kiện giao lưu như chị. Từ kinh nghiệm của mình, chị có thể chia sẻ một chút bí quyết về việc đưa văn học Việt ra thế giới? Tại các trung tâm văn học lớn như Hà Nội, TP.HCM có cần thành lập những trung tâm dịch thuật văn học?

Đây là cả một câu chuyện rất dài. Một đất nước có được cộng đồng thế giới biết đến hay không chủ yếu thông qua văn học và điện ảnh. Mà văn học, điện ảnh của chúng ta vẫn hầu như là là một khoảng trắng trên thế giới. Dù sao thì trong các hiệu sách ở quốc gia nào cũng vậy thôi, văn học Mỹ vẫn chiếm phần lớn diện tích trên giá. Sau đó mới đến Anh, Pháp, Thuỵ Điển… và hầu như không có văn học châu Á. Tôi cũng chỉ biết tự dịch sách sang tiếng Anh, tự bỏ tiền ra in sách, mà đầu năm sau sẽ ra mắt. Nỗ lực này là như muối bỏ bể khi mà trong nền kinh tế thị trường, mọi nhà xuất bản trên thế giới đều muốn sở hữu những cuốn sách best seller bán được hàng triệu bản ngay lập tức.

 

Và điều cuối cùng, không những tôi mà chắc nhiều bạn đọc cũng muốn biết: nhà văn trinh thám và xinh đẹp Di Li có nhận được sự ủng hộ từ phía gia đình cho công việc viết lách…

Gia đình tôi mới đầu không ai ủng hộ việc tôi viết lách như một công việc chuyên nghiệp. Mọi người cho rằng văn chương là thứ phù du. Nhưng giờ thì mọi sự đã thay đổi. Tất cả đều ủng hộ công việc sáng tạo của tôi, có lẽ là vì những gì tôi làm được khiến họ cảm thấy rất… thực tế.

 

Vâng, hiệu quả từ công việc bao giờ cũng là câu trả lời thực tế nhất. Xin cảm ơn Di Li về cuộc đối thoại không kiệm lời này.